Tin kinh tế
Thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội – một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay

[ Cập nhật vào ngày (25/08/2021) ] - [ Số lần xem: 702 ]

“Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kết kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển”[1]. Đó là khẳng định của Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam trong bài viết: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”.


Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng là xã hội vì con người, đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và lấy việc nâng cao chất lượng cuộc sống con người làm mục tiêu phục vụ. Đảng ta luôn nhấn mạnh phát triển kinh tế phải đi liền với giải quyết tốt các vấn đề xã hội. Phát triển kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa lại càng đòi hỏi phải giải quyết tốt các vấn đề xã hội, bởi lẽ phát triển kinh tế phải là sự phát triển bền vững dựa vào các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường, bên cạnh phát triển bền vững về mặt kinh tế còn phải đảm bảo sự phát triển bền vững về mặt xã hội.

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung phát triển năm 2011), Đảng ta khẳng định: “Bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp chặt chẽ, hợp lý phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách; phát triển hài hoà đời sống vật chất và đời sống tinh thần”.Chính sách kinh tế và chính sách xã hội là hai phạm trù riêng rẽ nhưng không tách rời nhau, có mối quan hệ tương hỗ và thống nhất. Sự đồng bộ giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội là điều kiện cần và đủ để bình ổn và phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện thắng lợi các mục tiêu của chính sách xã hội. Và ngược lại, sự ổn định, công bằng và tiến bộ xã hội đạt được thông qua các chính sách xã hội lại tạo ra những động lực mạnh mẽ để thực hiện các mục tiêu kinh tế.

Thực tiễn ở các nước trên thế giới và ở nước ta trong thời gian qua cho thấy, nếu chỉ quan tâm đến thực hiện chính sách kinh tế, tất cả vì mục tiêu kinh tế sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường (ô nhiễm môi trường, cạn kiệt nguồn tài nguyên; phân hoá giàu - nghèo, bất công trong xã hội; thất nghiệp gia tăng; khủng hoảng kinh tế hay tình trạng bất ổn trong xã hội…). Nhưng chỉ quan tâm đến giải quyết chính sách xã hội, thực hiện các mục tiêu xã hội sẽ không có nguồn lực để phát triển kinh tế. Do vậy, chỉ có thể thực hiện đồng bộ chính sách kinh tế và chính sách xã hội mới đạt được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. “Điều đó có nghĩa là: không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần”[2].

Trên thực tế chúng ta thấy rằng chính sách kinh tế và chính sách xã hội đều có mục tiêu chung là phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Sự hài hoà, đồng thuận giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội đảm bảo cho phát triển kinh tế nhanh, mạnh và bền vững nhưng không làm ảnh hưởng đến thực hiện mục tiêu công bằng xã hội, không dẫn đến sự gia tăng quá lớn khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, không làm mất ổn định xã hội, không gây xáo trộn và huỷ hoại môi trường sinh thái, không làm ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của thế hệ mai sau.“Mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng đến mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực cho phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xoá đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn”[3].

Thực tiễn đã chứng minh là tăng trưởng kinh tế không thể giải quyết được tất cả các vấn đề xã hội. Bởi vì, sự tác động của các quy luật kinh tế như: quy luật cung – cầu; quy luật cạnh tranh; quy luật giá trị thặng dư… đã làm cho các chính sách kinh tế không thể chứa đựng được hết các vần đề xã hội vốn rất phức tạp và nhạy cảm. Vì vậy, cùng với việc thực hiện các chính sách cho tăng trưởng kinh tế cần có các chính sách, chương trình xã hội riêng để giải quyết các vấn đề xã hội cụ thể nổi lên trong từng thời kỳ nhất định do tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường. Các chính sách và chương trình xã hội phải được thực hiện đồng thời hoặc lồng ghép với các chính sách kinh tế để tạo sức mạnh tổng hợp cho sự phát triển. Đó là một tất yếu mà chúng ta cần phải tuân thủ trong lộ trình hướng tới mục tiêu phát triển bền vững của đất nước. Một chính sách xã hội nếu không tính đến khả năng của nền kinh tế hoặc không quan tâm đến lợi ích kinh tế có khi lại trở thành “vật cản” cho sự tăng trưởng kinh tế. Một chính sách kinh tế không quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội sẽ không phát huy được hiệu quả kinh tế. Nghị Quyết số 15-NQ/TW, ngày 1-6-2012, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, về “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020” đã đặt ra yêu cầu: Chính sách xã hội phải được đặt ngang tầm với chính sách kinh tế và thực hiện đồng bộ với phát triển kinh tế, phù hợp với trình độ phát triển và khả năng nguồn lực trong từng thời kỳ...; đồng thời thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, bảo đảm mức sống tối thiểu và hỗ trợ kịp thời người có hoàn cảnh khó khăn.

Cách lựa chọn đúng đắn là kết hợp ngay từ đầu giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển. Chỉ khi có sự kết hợp tối ưu giữa chính sách kinh tế với chính sách xã hội mới có tác động thức đẩy nhanh sự phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội. Nguyên tắc chung cho sự kết hợp đó là: chính sách kinh tế phải tạo được động lực trong xã hội, đảm bảo cho xã hội ổn định; đến lượt nó, chính sách xã hội phải thức đẩy nền kinh tế phát triển và phù hợp với điều kiện kinh tế cho phép, đồng thời luôn đặt ra những yêu cầu mới, hướng tới sự phát triển bền vững.

“Những thành tựu đổi mới tại Việt Nam đã chứng minh rằng, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa không những có hiệu quả tích cực về mặt kinh tế mà còn giải quyết được các vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển kinh tế…. Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội… chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới”[4].

*TÀI LIỆU THAM KHAO:
[1], [2], [3], [4]: Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; Bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”.



Trương Thanh Nghĩa



Các ý kiến của bạn đọc