Kinh tế
Tầm quan trọng của vùng biển Việt Nam

[ Cập nhật vào ngày (27/12/2014) ] - [ Số lần xem: 947 ]

Việt Nam là một quốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của Đông Nam Á. Biển Việt Nam có vị trí chiến lược quan trọng, là khu vực giao thương nối liền Thái Bình Dương và Ấn Đô Dương, châu Á với châu Âu, châu Úc với Trung Đông. Khu vực biển Việt Nam là một phần của Biển Đông, là tuyến đường vận tải quan trọng tới Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc.


Biển Việt Nam nối thông với nhiều hướng, từ các hải cảng ven biển của Việt Nam thông qua eo biển Malacca để đi đến Ấn Độ Dương, Trung Đông, châu Âu, châu Phi; qua eo biển Basi có thể đi vào Thái Bình Dương đến các cảng của Nhật Bản, Nga, Nam Mỹ và Bắc Mỹ; qua các eo biển giữa Philippines, Indonesia, Singapore đến Australia và New Zealand… Đây là điều kiện thuận lợi để ngành giao thông vận tải biển nước ta phát triển, thúc đẩy giao lưu kinh tế, văn hóa giữa nước ta với các nước khác trong khu vực và thế giới.

 

Việt Nam ở vị trí có tiềm năng phát triển kinh tế biển, như đóng tàu, vận tải đường biển, phát triển cảng và công trình thủy, khai thác thủy hải sản, khai thác tài nguyên khoáng sản biển và dầu khí, du lịch biển và hải đảo, dịch vụ đường biển…

 

Việt Nam giáp với biển ở hai phía Đông và Nam. Bờ biển Việt Nam dài hơn 3.260km, từ Quảng Ninh ở phía Đông Bắc tới Kiên Giang ở phía Tây Nam. Tính trung bình tỷ lệ diện tích theo số km thì cứ 100km2 đất liền có 1km bờ biển (so với trung bình của thế giới là 600km2 đất liền/1km bờ biển). Biển Việt Nam có nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với diện tích trên 1 triệu km2 (gấp 3 lần diện tích đất liền: 1 triệu km2 biển/330.000km2 đất liền).

 

Biển đảo Việt Nam có thể chia thành 4 khu vực: biển Đông Bắc (một phần vịnh Bắc bộ), nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam và tiếp giáp với Trung Quốc (đảo Hải Nam); biển Bắc Trung bộ (một phần Biển Đông) ở phía Đông Việt Nam; biển Nam Trung bộ (một phần Biển Đông) ở phía Đông Nam, và vùng biển Tây Nam (một phần vịnh Thái Lan) nằm phía Tây Nam của Việt Nam, tiếp giáp với Campuchia và Thái Lan. Trong khu vực biển Việt Nam có khoảng 4.000 đảo lớn nhỏ gần và xa bờ, trong đó có 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm xa bờ, tạo thành một khu vực phòng tuyến, bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển và hải đảo.

 

Tài nguyên

 

Biển Việt Nam có vị trí giao lưu quốc tế thuận lợi và có tiềm năng phát triển ngành kinh tế biển phong phú và đa dạng. Những đặc điểm chính của biển, đảo Việt Nam là có khí hậu nhiệt đới tạo điều kiện cho sinh vật biển phát triển và tồn tại tốt, biển có tài nguyên sinh vật và khoáng sản phong phú, đa dạng và quý hiếm.

 

Việt Nam nằm trải dài ven biển, có tới 26 tỉnh, thành phố ven biển, chiếm tới 42% diện tích và 45% dân số cả nước, có khoảng 15,5 triệu người sống gần biển và 16 vạn người sống ở đảo. Trên bờ biển của nước ta có nhiều mũi đá nhô ra sát biển, tạo nên các “hoành sơn thiên nhiên tráng lệ”, như đèo Ngang, đèo Hải Vân, đèo Cả. Địa hình bờ biển của nước ta rất đa dạng và độc đáo, do được phát triển trên các loại đất đá khác nhau trong điều kiện khí hậu có sự phân hóa rõ rệt theo chiều Bắc - Nam. Do bờ biển dài nên Việt Nam có nhiều bãi tắm đẹp với cát mịn và sạch, rải rác từ Trà Cổ (Móng Cái, Quảng Ninh) đến Bãi Nai (Hà Tiên, Kiên Giang).

 

Theo các số liệu thống kê, hiện có tới 11.000 loài sinh vật thủy sinh và 1.300 loài sinh vật trên đảo được biết đến trong các vùng biển, đảo Việt Nam. Có 83 loài sinh vật biển được ghi vào Sách đỏ Việt Nam. Biển Việt Nam có 110 loài cá kinh tế, tổng trữ lượng cá biển khoảng 3-3,5 triệu tấn và khả năng khai thác trên 1 triệu tấn/năm.

 

Ngoài ra, vùng biển Việt Nam còn có nguồn lợi động vật thân mềm (hơn 2.500 loài) với trữ lượng đáng kể, có giá trị kinh tế cao. Rong biển có hơn 600 loài. Có nhiều loài động vật quý như đồi mồi, rắn biển, chim biển, thú biển. Tiềm năng nuôi trồng thủy sản nước mặn, lợ trong các vùng cửa sông, đầm phá, vũng vịnh và vùng biển ven bờ rất lớn (diện tích tiềm năng nuôi trồng thủy sản của nước ta khoảng 2 triệu ha); trong khi đó tiềm năng nguồn lợi hải sản của nước ta rất lớn, nhưng khả năng khai thác còn hạn chế.

 

Tài nguyên không sinh vật của biển Việt Nam rất lớn, bao gồm tài nguyên khoáng sản, tài nguyên năng lượng và các loại tài nguyên khác.

 

Trong các vùng biển và thềm lục địa nước ta, nhiều bể trầm tích có triển vọng dầu khí đã được xác định. Trong đó, các bể Cửu Long và Nam Côn Sơn được đánh giá là có triển vọng dầu khí và điều kiện khai thác tốt nhất, với tổng trữ lượng ước tính khoảng 10 tỉ tấn dầu quy đổi. Cùng với dầu - khí, trong các bể trầm tích ở thềm lục địa nước ta còn có trữ lượng than rất đáng kể.

 

Các loại sa khoáng ven bờ như ilmenit với trữ lượng dự đoán khoảng 13 triệu tấn; cát thủy tinh trữ lượng ước tính hàng trăm tỉ tấn. Ngoài ra, còn có một lượng lớn vật liệu xây dựng khổng lồ có thể khai thác từ đáy biển (cát, sạn, sỏi cho xây dựng hoặc san lấp) để thay thế cho nguồn này trên lục địa đang cạn kiệt.

 

Tiềm năng điện gió ở Việt Nam rất lớn. Riêng dải duyên hải Nam Trung bộ và Nam bộ có khả năng sản xuất tới 5 x 109Kw/giờ.năm… Gần đây, người ta phát hiện ở Biển Đông có một trữ lượng băng cháy khổng lồ. Với 1m3 băng cháy có thể giải phóng từ 160-180m3 khí thiên nhiên. Đây sẽ là nguồn cung cấp năng lượng sạch vô cùng lớn.




T.T tổng hợp



Các ý kiến của bạn đọc




 

  • Tin tiếp theo
    • Không tồn tại tin tiếp theo

     Trang:   1

 


Quảng cáo
Không có quảng cáo